NỘI DUNG CHI TIẾT CÂU HỎI ĐÁP

Tiêu đề câu hỏi: Hỏi về chi phí lương đối với số giờ vượt 200 giờ trong 1 năm
Lĩnh vực: Các khoản thuế, lệ phí trước bạ, chuyển và nhận quyền sử dụng đất
Người hỏi: Người hỏi yêu cầu không nêu tên
Ngày hỏi: 14/04/2017
Nội dung hỏi:

 Công ty TNHH IM Vina thành lập theo GCN ĐT số 2163221004 ngày 22 tháng 12 năm 2016, thay đổi lần 1 ngày 13 tháng 03 năm 2017. Công ty chúng tôi đang giai đoạn xây dựng nhà máy và dự kiến bắt đầu đi vào sản xuất từ tháng 06 năm 2017.

Theo khoản 2, mục b, điều 106:

Điều 106. Làm thêm giờ

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

Theo đó, chúng tôi hiểu là đối với người lao động có số giờ làm thêm vượt quá 200 giờ trong 01 năm thì phần vượt quá đó sẽ không được coi là chi phí hợp lý. Như vậy, chi phí tiền lương trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ có được coi là chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp hay không? Và số tiền trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ đó có được coi là thu nhập phải tính thuế thu nhập cá nhân hay không?

Chúng tôi rất mong nhận được sự tư vấn từ Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc về vấn đề  này.

Công ty IM Vina xin chân thành cảm ơn!

File đính kèm

THÔNG TIN TRẢ LỜI

Cơ quan trả lời: Cục Thuế tỉnh
Ngày trả lời: 24/04/2017
Nội dung trả lời:

 

Ngày 20/4/2017, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc nhận được câu hỏi của Công ty TNHH IM Vina thông qua Cổng thông tin đối thoại Doanh nghiệp – Chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc về việc chi phí tiền lương trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ có được coi là chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN hay không? Và số tiền trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ đó có được coi là thu nhập phải tính thuế thu nhập cá nhân hay không? Về vấn đề này Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trả lời như sau:

1.     Về chi phí tiền lương trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ:

Căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 106 Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 như sau:

“ 2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a)    Được sự đồng ý của người lao động

b) Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 30 giờ trong 1 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 1 năm”.

Căn cứ vào Điểm a, Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định về các trường hợp được làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong 1 năm như sau:

          “ - Sản xuất, gia công, xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản.

-      Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, cấp, thoát nước.

- Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.”

Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính như sau:

“1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện:

a)  Khoản chi thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b)    Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.”

Hướng dẫn tại Điểm 2.5 Khoản 2 Điều 6 của Thông tư số 78/2014/TT-BTC về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

a) Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ  nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật.

 b) Các khoản tiền lương, tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thoả ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp vì các lý do chính đáng doanh nghiệp phải tăng thời gian làm thêm vượt quá 200 giờ trong một năm, được sự đồng ý của người lao động, liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trả cho người lao động và có đầy đủ chứng từ theo quy định thì khoản chi phí tiền lương đối với số giờ làm thêm vượt quá 200 giờ được tính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

          2.  Về số tiền trả cho người lao động đối với số giờ làm thêm vượt 200 giờ đó có được coi là thu nhập phải tính thuế thu nhập cá nhân hay không?

Căn cứ vào hướng dẫn tại Điểm i, Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính về các khoản thu nhập được miễn thuế Thu nhập cá nhân bao gồm:

“ i. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:

i.1) Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm ban đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Ví dụ 2: Ông A có mức lương trả theo ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là 40.000 đồng/giờ.

- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày thường, cá nhân được trả 60.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là: 

60.000 đồng/giờ – 40.000 đồng/giờ = 20.000 đồng/giờ

- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cá nhân được trả 80.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là:

80.000 đồng/giờ – 40.000 đồng/giờ = 40.000 đồng/giờ” 

i.2) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.”

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp trong năm người lao động làm thêm không quá 200 giờ đối với doanh nghiệp bình thường và không quá 300 giờ đối với một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, Công ty chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động do làm việc ban đêm hoặc làm thêm giờ (kể cả phần thu nhập trả cho người lao động do làm thêm vượt quá 200 giờ/năm) thì phần thu nhập được miễn thuế Thu nhập cá nhân là khoản chênh lệch giữa phần thu nhập thực tế nhận được của ngày làm thêm giờ (60.000đ hoặc 80.000 đ) trừ đi phần thu nhập nhận được tính theo ngày làm việc bình thường (40.000 đ). Khoản tiền làm thêm không đáp ứng đúng quy định tại Khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Lao động và Điểm i, Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC nêu trên là khoản thu nhập phải tính thuế Thu nhập cá nhân. 

         Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trả lời để Công ty TNHH IM Vina được biết và thực hiện./.

Đánh giá: