NỘI DUNG CHI TIẾT PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ

Tiêu đề: V/v Chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia sang Việt Nam công tác
Người gửi: Người gửi yêu cầu không nêu tên
Ngày gửi: 07/06/2019
Nội dung:

 Kính gửi cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc.

Chúng tôi có thắc mắc về chính sách thuế thu nhập cá nhân cần nhận được sự tư vấn từ cục thuế như sau:

Công ty chúng tôi có 100% vốn đầu tư Nhật Bản. Sắp tới Công ty mẹ tại Nhật bản sẽ cử một số chuyên gia sang Công ty con tại Việt Nam công tác với lý do giám sát sản xuất trong giai đoạn Công ty mới đi vào hoạt động, không phải theo bất cứ hợp đồng dịch vụ nào. Trên quyết định công tác có nêu rõ, Công ty tại Việt Nam sẽ chi trả chi phí thuê phòng, chi phí đi lại trong quá trình Công tác. Như vậy nếu chúng tôi có đầy đủ chứng từ cử đi Công tác từ bên Công ty mẹ thì khoản chi phí tiền phòng và chi phí đi lại có được miễn thuế TNCN hay không? Tiền lương trong quá trình công tác tại Việt Nam mà công ty mẹ tại Nhật trả cho chuyên gia có được miễn thuế TNCN tại Việt Nam hay không? Chúng tôi có thể nộp hồ sơ theo hiệp định tránh đánh thuế 2 lần trong trường hợp này không? Nếu có, Xin tư vấn cho chúng tôi biết thủ tục cần chuẩn bị những hồ sơ gì?

Kính mong nhận được sự hỗ trợ từ cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc để Công ty chúng tôi thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

 

THÔNG TIN PHÚC ĐÁP

Tên cơ quan: Cục Thuế tỉnh
Ngày gửi: 18/06/2019 (Trễ hạn 3 ngày)
Nội dung:

Kính gửi NNT!

Ngày 07/06/2019, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc nhận được 01 phản ánh, kiến nghị của NNT trên Hệ thống tiếp nhận, giải quyết các phản ánh, kiến nghị của các Tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Về vấn đề này, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc có ý kiến như sau:

1. Thuế TNCN đối với các khoản chi trả chi phí thuê phòng, đi lại của chuyên gia.

Căn cứ Điểm đ, Khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN hướng dẫn các khoản thu nhập chịu thuế:

“đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức“

Căn cứ quy định trên đây, trường hợp Công ty tại Việt Nam chi trả các khoản thuê phòng, đi lại… cho các chuyên gia là các khoản thu nhập chịu thuế TNCN.

2. Đối với khoản thu nhập từ tiền lương trong quá trình công tác tại Việt Nam mà công ty mẹ tại Nhật Bản chi trả.

2.1. Trường hợp các chuyên gia ở Việt Nam trên 183 ngày trong một năm tính thuế.

Tại Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 sửa đổi, bổ sung các khổ 1, 2, 3, 4 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN quy định về Người nộp thuế và phạm vi xác định thu nhập như sau:

Điều 1. Người nộp thuế

Người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP.

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

Đi với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập.

Đối với cá nhân là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trn lậu thuế đi với các loại thuế đánh vào thu nhập và là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân được tính từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đng lao động và rời Việt Nam (được tính đủ theo tháng) không phải thực hiện các thủ tục xác nhận lãnh sự để được thực hiện không thu thuế trùng hai ln theo Hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa hai quốc gia.

…”

Căn cứ quy định trên thì trường hợp các chuyên gia ở Việt Nam trên 183 ngày thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam thì thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập.

2.2. Trường hợp các chuyên gia ở Việt Nam dưới 183 ngày trong một năm tính thuế

Tại Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 sửa đổi, bổ sung các khổ 1, 2, 3, 4 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN quy định về phạm vi xác định thu nhập chịu thuế đối với cá nhân không cư trú như sau:

“…Đi với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

Căn cứ các quy định trên đây, trường hợp các chuyên gia có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm dương lịch phải nộp thuế TNCN tại Việt Nam đối với khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

Căn cứ theo quy định tại các Khoản 1 và Khoản 2, Điều 15 của Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập đã được ký kết giữa Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã quy định như sau:

1/ Thể theo các quy định tại Điều 16, 18 và 19 các khoản tiền lương, tiền công, và các khoản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó, trừ khi công việc của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu công việc làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.

2/ Mặc dù có những quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu:

a. Người nhận tiền hiện có mặt tại Nước kia trong một thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian gộp lại không qúa 183 ngày trong năm dương lịch liên quan, và

b. Chủ lao động hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là đối tượng cư trú taị Nước kia, và

c. Số tiền công không phải phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định mà đối tượng chủ lao động có tại Nước kia.

Căn cứ quy định trên, thu nhập của các chuyên gia nước ngoài của Công ty mẹ bên Nhật Bản cử sang có phát sinh thu nhập từ công việc làm công tại Việt Nam sẽ chỉ bị đánh thuế TNCN tại Nhật Bản (được miễn thuế TNCN tại Việt Nam) nếu cả 3 điều kiện a, b và c tại Khoản 2, Điều 15 nêu trên đồng thời được thỏa mãn.

Đề nghị Công ty cần xác định rõ đối với trường hợp cụ thể đang phát sinh tại Công ty có thuộc diện được miễn thuế TNCN theo Hiệp định hay không. Trong trường hợp các chuyên gia trên thuộc diện được miễn thuế thì thủ tục miễn thuế do áp dụng Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập đã được ký kết giữa Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Khoản 13, Điều 16 Thông tư 156/2013/TT-BTC  của Bộ Tài chính.

Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trả lời để NNT được biết và thực hiện theo đúng quy định./.

Đánh giá: