NỘI DUNG CHI TIẾT PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ

Tiêu đề: Hỏi về việc xuất hóa đơn hoàn trả phí bảo hiểm cháy nổ
Người gửi: Đinh Thị Thái
Ngày gửi: 24/11/2018
Nội dung:

 Tháng 7/2018 công ty có tham gia hợp đồng bảo hiểm cháy nổ nhà xưởng V5, thời gian tham gia bảo hiểm là từ 03/07/2018-31/12/2018 số tiền là 166 triệu, công ty đã thanh toán và nhận hóa đơn đủ số tiền trên. Ngày 21/11/2018 hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Công ty bảo hiểm đồng ý trả lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng từ ngày 22/11/2018-31/12/2018 số tiền là 31 triệu. Trong trường hợp này công ty muốn hỏi:

1. Việc xuất hóa đơn cho số tiền hoàn phí bảo hiểm (31 triệu) trên là do công ty nào xuất là đúng?

2. Trong trường hợp Công ty Partron Vina phải xuất hóa đơn thì Công ty là DNCX, đang sử dụng hóa đơn bán hàng mẫu 07KPTQ. Như vậy, công ty có được phép dùng hóa đơn bán hàng mẫu 07KPTQ để xuất trả phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm không? VÌiđây chỉ là việc nhận lại số tiền hoàn phí bảo hiểm.

Rất mong nhận được câu trả lời

THÔNG TIN PHÚC ĐÁP

Tên cơ quan: Cục Thuế tỉnh
Ngày gửi: 28/11/2018 (Trước hạn 2 ngày)
Nội dung:

Kính gửi Quý Doanh nghiệp!

Ngày 24/11/2018, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc nhận được 01 phản ánh, kiến nghị của Quý Doanh nghiệp trên Hệ thống tiếp nhận, giải quyết các phản ánh, kiến nghị của Tổ chức, Cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Về vấn đề này, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc có ý kiến như sau:

Tại Khoản 20, Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài Chính quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:

“Hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau.

Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác.

Tại Khoản 1, Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài Chính quy định về thuế suất 0% như sau:

1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật”.

Tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 09/2011/TT-BTC ngày 21/01/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực bảo hiểm quy định về hóa đơn, chứng từ đối với trường hợp hoàn trả phí bảo hiểm như sau:

“Trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm là tổ chức kinh doanh, khi hoàn trả phí bảo hiểm (một phần hoặc toàn bộ), doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm lập hóa đơn giá trị gia tăng, trên hóa đơn ghi rõ số tiền phí bảo hiểm do công ty bảo hiểm hoàn trả, tiền thuế giá trị gia tăng, lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Hóa đơn này là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm Điều chỉnh doanh số bán, số thuế giá trị gia tăng đầu ra, tổ chức tham gia bảo hiểm Điều chỉnh chi phí mua bảo hiểm, số thuế giá trị gia tăng đã kê khai hoặc đã khấu trừ.

Trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm là đối tượng không có hóa đơn giá trị gia tăng, khi hoàn trả tiền phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng tham gia bảo hiểm phải lập biên bản hoặc thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả (không bao gồm thuế giá trị gia tăng), số tiền thuế giá trị gia tăng theo hóa đơn thu phí bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã thu (số ký hiệu, ngày, tháng của hóa đơn), lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Biên bản này được lưu giữ cùng với hóa đơn thu phí bảo hiểm để làm căn cứ Điều chỉnh kê khai doanh thu, thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp bảo hiểm. Trường hợp khách hàng không cung cấp được hóa đơn thu phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm căn cứ vào hóa đơn lưu tại doanh nghiệp và biên bản hoặc văn bản thỏa thuận để thực hiện hoàn trả số tiền phí bảo hiểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.”

Căn cứ vào các quy định nêu trên và nội dung trình bày của Công ty TNHH Partron Vina gửi Hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị tỉnh Vĩnh Phúc ngày 24/11/2018 thì: Công ty TNHH Partron Vina là doanh nghiệp chế xuất, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT; Công ty có tham gia mua gói bảo hiểm cháy nổ nhà xưởng của một doanh nghiệp Bảo hiểm, đơn vị bán hàng đã xuất hóa đơn cho Công ty TNHH Partron Vina với thuế suất 0% đối với toàn bộ giá trị hợp đồng bảo hiểm (166 triệu đồng). Trường hợp trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên có thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn và doanh nghiệp Bảo Hiểm đồng ý hoàn lại cho Công ty TNHH Partron Vina số tiền bảo hiểm (31 triệu đồng) theo thời gian còn lại của giá trị hợp đồng thì Công ty TNHH Partron Vina (là đối tượng không chịu thuế và không sử dụng hóa đơn GTGT) và doanh nghiệp Bảo hiểm phải lập Biên bản hoặc thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả (không bao gồm thuế GTGT), số tiền thuế GTGT (thuế suất 0% là 0 đồng) theo hóa đơn thu phí bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã thu, lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Biên bản này được lưu giữ cùng với hóa đơn thanh toán (thu) tiền phí bảo hiểm để hai bên làm căn cứ kê khai điều chỉnh doanh thu, thuế GTGT (nếu có) với cơ quan thuế.   

 Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trả lời để Quý Doanh nghiệp được biết và thực hiện theo đúng quy định./.

Đánh giá: